Sếp doanh nghiệp nhỏ phải biết cách xây dựng quan hệ

22:04 |
Muốn tồn tại trong nền kinh tế như hiện nay, các sếp tại doanh nghiệp nhỏ cần phải xây dựng được các mối quan hệ. Dưới đây là những mối quan hệ mà bạn bắt buộc phải có khi là chủ một doanh nghiệp nhỏ:

1. Mối quan hệ mục tiêu

Đây là mối quan hệ với những người mà bạn không biết, nhưng ở trong cùng lĩnh vực kinh doanh với bạn, có thể là người cùng kinh doanh như bạn hoặc đối thủ. Bạn nên đặt mục tiêu và kết nối với họ, vì bạn sẽ được lợi từ những gì mà họ đề xuất, cũng như họ sẽ được lợi từ việc quen biết với bạn.

Những mối quan hệ có mục tiêu thường mang lại cảm giác không thật, bởi bạn không thực sự biết về cá nhân những con người này. Có thể bạn sẽ kết nối với họ trên trang nghề nghiệp LinkedIn hoặc trao đổi danh thiếp tại một sự kiện. Bạn chưa thể phụ thuộc ngay vào những người này, nhưng nếu bạn “đầu tư” cho những mối quan hệ với họ, họ có thể giữ vai trò quan trọng đối với bạn trong tương lai. Nếu bạn đặt mục tiêu vào đúng người, bạn sẽ biết rõ ai là người mà bạn cần tìm đến khi lĩnh vực kinh doanh của công ty hoặc thị trường có biến động.

2. Mối quan hệ có chủ đích

Trước khi bạn đề nghị ai đó làm điều gì đó cho mình, bạn cần phải thiết lập một dạng quan hệ với người đó. Nếu bạn đã có cuộc trò chuyện chóng vánh với một người nào đó tại một cuộc hội thảo hoặc một sự kiện, mối quan hệ đó là một mối quan hệ có chủ đích. Có thể bạn chưa thực sự biết về họ, nhưng bạn đã biết đủ để có thể gửi email cho họ và hỏi xem họ có muốn tham gia vào dự án mới của bạn hay không.

Các mối quan hệ có chủ đích khác với quan hệ mục tiêu vì bạn đã thực sự trò chuyện và gặp gỡ với những người này thông qua một vài buổi cà phê hoặc ăn trưa nào đó. Bạn nhận thấy mối quan hệ với họ phát triển, và hai bên nỗ lực để hiểu rõ về nhau hơn. Những người này có thể đem đến lợi ích cho công ty của bạn. Chẳng hạn, nếu bạn cần biết nơi cung cấp một số mặt hàng nhất định, họ có thể giúp bạn liên lạc với đúng người. Nếu họ là chuyên gia trong ngành, họ có thể tư vấn cho bạn về những quyết định kinh doanh khác nhau.

3. Mối quan hệ giao dịch

Đây là những mhững mối quan hệ có mức độ cá nhân thấp và thường được các nhà quản lý sử dụng để đạt được những mục tiêu kinh doanh cụ thể. “Các mối quan hệ này được định nghĩa bởi điều mà một bên có thể làm được cho bên kia để giúp bên kia đạt được những mục tiêu trong ngắn hạn, hiếm khi lan sang vấn đề sự nghiệp và các lĩnh vực cá nhân”, chuyên gia Berson và Stieglitz viết. Chẳng hạn, các mối quan hệ với khách hàng, bạn kinh doanh hoặc nhà cung cấp thường là các mối quan hệ giao dịch.

“Đối tác trong mối quan hệ giao dịch tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau bởi họ thường xuyên làm việc cùng nhau và đối xử bình đẳng với nhau. Những mối quan hệ này phát triển với những người mà bạn có thể tìm đến và dựa vào để hoàn thành công việc”, hai đồng tác giả viết.

4. Mối quan hệ tin cẩn

Đây là mối quan hệ cá nhân nhất, giá trị nhất và thường là lâu dài nhất trong số những mối quan hệ được nêu ở đây. Những cuộc trao đổi của bạn với những người này thường liên quan tới các kế hoạch dài hơi.

Những người này là người tư vấn hoặc bạn làm ăn thân thiết. Dạng quan hệ này cũng cần tồn tại giữa lãnh đạo cấp cao của công ty với đối tác trong các tổ chức khác nhau. Các thỏa thuận kinh doanh cần phải được hình thành thông qua các mối quan hệ tin cẩn. Để tạo dựng được một mối quan hệ như vậy, bạn cần phải có nhiều tương tác. Ở giai đoạn đầu của các mối quan hệ tin cẩn, bạn nên giúp đỡ đối phương mà không kỳ vọng được họ đáp trả điều gì. Một khi bạn làm vậy, sự tin tưởng sẽ hình thành giữa hai bên. Nếu bạn quyết định làm ăn với bên kia, những tương tác như vậy có thể sẽ dẫn tới một mối quan hệ tin cẩn, bởi bạn đã đối xử tối với họ và không lợi dụng họ để đạt lợi ích một phía.

Các mối quan hệ tin cẩn đòi hỏi sự đầu tư nhiều nhất cả về thời gian và công sức, nhưng điều đó là xứng đáng bởi các mối quan hệ này thường tạo ra những cơ hội lớn và có ảnh hưởng lớn và lâu dài đối với công ty của bạn cũng như của phía bên kia.

Bạn không cần phải xây dựng mối quan hệ sâu sắc với bất kỳ ai mà bạn gặp. Cách tốt nhất là chọn một vài người để xây dựng mối quan hệ tin cẩn, đồng thời xác định một nhóm lớn hơn để xây dựng các mối quan hệ mục tiêu, có chủ đích và giao dịch.

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Bạn có sợ thất nghiệp không??

19:50 |
Trong thời buổi kinh tế khủng hoảng như hiện nay, khi mà trên các mặt báo giấy, báo mạng, các thông tin về phá sản, sinh viên ra trường, thất nghiệp, lương thấp, tốt nghiệp đại học không xin được việc, chấp nhận đi làm ô-sin... tràn lan. Có lẽ nó cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với 1 cơ số người trong chúng ta. Bạn có thể không dám nghỉ việc, bạn lo ngại sẽ không tìm được công việc mới ổn định hơn, bạn lo lắng nếu phải ngồi nhà chờ việc trong một thời gian dài, biết đâu ... và ... biết đâu...

Tất nhiên, đó không phải là nỗi lo của tất cả mọi người. Có những người lo, nhưng có những người chả lo gì cả. Không phải họ "vô tư quá", không phải họ "có ô dù" cả rồi, mà đơn giản, họ luôn vận động. Và dưới đây là 1 vài ví dụ về "sự vận động" của họ: 

1. Nhận làm hợp đồng hay các công việc mang tính tạm thời

Chìa khoá của thành công đó là cho người khác thấy bạn đang làm việc:


75% các chuyên gia trên lĩnh vực tuyển dụng khuyên người lao động làm các công việc tạm thời hay các hợp đồng ngắn hạn. Chìa khoá của thành công đó là cho người khác thấy bạn đang làm việc. Nếu bạn phát huy tốt năng lực cá nhân và đem lại hiệu quả cao trong công việc dù là không cố định ấy thì không ông chủ nào lại từ chối một vị trí lâu dài giành cho bạn.

2. Tham gia một lớp học

61% các giám đốc tuyển dụng cho rằng công nhân nên đi học trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Việc tiếp tục học hỏi sẽ giúp bạn nâng cao tay nghề, năng lực và giữ cho các kỹ năng nghề nghiệp không bị mai một. Tham gia một khoá học trong lĩnh vực mà bạn đang theo đuổi cũng là một bằng chững cho sự nghiêm túc với nghề và được các ông chủ đánh giá cao. Một thuận lợi nữa của việc đến các lớp học đó là bạn sẽ có cơ hội giao lưu, trao đổi với nhiều người khác.


3. Hoạt động tình nguyện

Nhà tuyển dụng sẽ thấy được ở bạn nhân cách đạo đức và tiềm năng làm việc độc lập


60% các nhà tuyển dụng khẳng định hoạt động tình nguyện khiến bạn trở nên hoạt bát và có khả năng hơn trong công việc. Bởi nếu bạn từng tham gia các hoạt động tình nguyện cho một vài đơn vị hay đoàn thể nào đó, nhà tuyển dụng sẽ thấy được ở bạn nhân cách đạo đức và tiềm năng làm việc độc lập. Khi biết cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ người khác, tiền bạc có vẻ như không phải là tất cả đối với bạn. Chính điểm mạnh về nhân cách này là điều ghi điểm trong mắt các công ty đang có nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực.

4. Tự kinh doanh

28% các chuyên gia khuyên người lao động đang thất nghiệp tự tìm cách tạo dựng cho mình một sự nghiệp kinh doanh riêng. Song điều này sẽ không dễ dàng và cũng khá tốn thời gian nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, dù hoài bão kinh doanh có không thành thì những cố gắng của bạn sẽ được các doanh nghiệp ghi nhận. Bởi trong thời kỳ nhàn rỗi, bạn vẫn làm việc bán thời gian hay toàn thời gian cố định để học hỏi các kỹ năng và tự phát triển mình. Nếu may mắn thì bạn sẽ không chỉ cứu chính mình mà còn mang lại công việc cho nhiều người cũng đang thất nghiệp khác.

5. Lập ra một blog cá nhân chuyên nghiệp

Blog là 1 công cụ tuyệt vời để thể hiện con người bạn

11% trong số chuyên viên nhân sự cho biết một blog cá nhân chuyên nghiệp có thể trở thành  công cụ hữu ích để bạn quảng cáo hình ảnh của chính mình. Bởi nó tạo cho người xem cảm giác bạn là một chuyên gia trên lĩnh vực đang hoạt động. Blog cá nhân cũng giúp bạn khẳng định đam mê nghề nghiệp, trao đổi học hỏi và gây chú ý hơn trước nhà tuyển dụng.


6. Mở rộng các mối quan hệ cá nhân

Nếu có ai đó trong công ty giúp bạn gửi hồ sơ xin việc trong công ty thì khả năng được chấp nhận sẽ cao hơn rất nhiều. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ cá nhân trong quá trình tìm kiếm việc làm hậu thất nghiệp. Cho nên, bạn hãy tích cực mở rộng danh sách liên lạc của mình thông qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Hãy cho bạn bè, người thân biết rằng bạn đang tìm việc làm và cần tới sự giúp đỡ của họ.

7. Theo dõi các nguồn tin tức về những ngành công nghiệp hay lĩnh vực đang có giá

Các chuyên gia của CareerBuild nhận định rằng công nghệ, kỹ thuật, y tế, kinh doanh và dịch vụ khách hàng là những mảng thị trường thu hút lao động lớn nhất toàn quốc. Người lao động nên theo dõi những nguồn tin tức liên quan để biết được các cơ hội việc làm và nhanh chân tham gia đăng tuyển.

8. Đầu tư thời gian cho những ý tưởng mới

Các nhà tuyển dụng luôn đề cao các ứng viên có tính sáng tạo

Tại cuộc phỏng vấn với nhà tuyển dụng, các ứng viên sẽ tạo ấn tượng tốt nếu thể hiện được những ý tưởng mang tính sáng tạo và có thể áp dụng vào thực tiễn như chiến dịch tiếp thị, dòng lợi nhuận mới hay tiết kiệm chi phí đầu tư. Khi bạn dành thời gian suy nghĩ và tìm ra những ý tưởng tuyệt vời, bạn sẽ trở nên thuyết phục trong mắt các ông chủ.

9. Tiếp cận với nhà tuyển dụng

Theo điều tra của CareerBuilder, 2/3 trong tổng số lao động không hề có bước tiếp cận nào với nhà tuyển dụng sau khi nộp đơn xin việc. Hãy khôn ngoan tiếp cận họ ngay sau cuộc phỏng vấn bằng một bức thư điện tử hay thư tay với mục đích thể hiện lòng biết ơn và sự yêu thích công việc cũng như khao khát được chọn vào vị trí họ đang tìm kiếm. Chắc chắn hồ sơ của bạn sẽ được nhà tuyển dụng chú ý nhiều hơn các ứng viên khác.

10. Dùng nhiều thuật ngữ chuyên ngành trong hồ sơ xin việc

Có lẽ nhiều người phải dành kha khá thời gian cho việc soạn thảo một bộ hồ sơ xin việc hoàn chỉnh. Đừng quên sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực lao động mà bạn đang tìm kiếm. Một số nhà tuyển dụng sàng lọc danh sách ứng viên bằng ứng dụng phân loại của các thiết bị công nghệ. Với nhiều thuật ngữ chuyên ngành, hồ sơ của bạn sẽ được các thiết bị đó dễ dàng phát hiện và xếp lên hàng đầu.

Cuối cùng, ông Haefners khẳng định rằng các hoạt động trên đây chắc chắn sẽ hỗ trợ lao động thất nghiệp rất nhiều trong quá trình chờ đợi một công việc mới. Khi họ có quyết tâm, tích cực thực hiện và duy trì động cơ nghề nghiệp vững vàng thì thành công sẽ tự tìm đến họ.



Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Blog vẫn là nơi tự do nhất: Làm việc với một lũ ngu thật mệt

19:50 |
Đây là góc của tôi, ai đọc có thể đồng tình, hoặc không, đó là quyền của các bạn, nhưng, tôi khá đồng tình với tác giả bài viết. Muốn biết chi tiết, các bạn cứ đọc, hoặc bỏ qua, nếu thích. 

Đây là câu tui thường xuyên nghe được từ miệng các bạn trẻ thông minh tột bậc, tài năng xuất chúng và từ chính trong suy nghĩ của tui cách đây vài năm. Bất cứ vấn đề gì đưa lên mà bị sếp gạt đi vì lý do nào đấy thì tui đều tỏ vẻ khó chịu, khinh khỉnh và tự nhủ trong đầu "đúng là ngu", "đã đéo biết gì mà còn ngang bướng", "chờ đấy coi hậu quả rồi trắng mắt ra"... Nói tóm lại, tui thấy làm việc với một lũ ngu thật mệt. 

Rồi tui ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn, làm được nhiều việc vĩ đại hơn, có nhiều tiền hơn và đủ tự tin hơn để đứng ở vai trò giám đốc một công ty. Tui cũng lại đi thuê những bạn trẻ năng động, tài giỏi xuất chúng như tui ngày trước vô làm việc. Trong kế hoạch mà các bạn ấy submit lên, tui lại thấy đầy rẫy những vấn đề mà kinh nghiệm cho tui biết rằng kế hoạch này thất bại. Nhưng vì quá bận nên tui không thể đi giải thích từng chút một. Tui nghĩ, các bạn trẻ hẳn là cũng đang rất hậm hực vì thấy làm việc với mấy thằng ngu như tui thật mệt!

Khổ nỗi, phải đến lúc bị những người khác coi là thằng ngu thì tui mới thấy các ông sếp bà sếp ngày xưa của mình thông minh quá trời thần. Tui hiểu rằng họ chỉ góp ý những chỗ mà họ biết, họ đã trải qua thôi. Và để lãnh đạo được cả một công ty thì tất nhiên họ chẳng ngu gì cả. Ngay cả khi họ thực sự có sai xót trong đánh giá kế hoạch của tui thì tui vẫn ngu hơn họ ở chỗ không có khả năng thuyết phục. Tui mới thực sự là một thằng ngu chứ không phải họ. Tui mất mát nhiều hơn họ.

Hôm trước ngồi nói chuyện với một bạn đại gia. Bạn í hỏi tui cách thức đi mua danh hiệu hoa hậu cho "mấy con chân dài não ngắn" (trích nguyên văn đó). Tất nhiên là tui biết, và tất nhiên là tui không có chỉ. Vì tui bị không thích chứ cũng chẳng có gì nghiêm trọng. Tui bảo, ủa mắc chi gọi người ta não ngắn? Tui dị ứng ai gọi người đẹp là não ngắn lắm nha. Người ta xinh xắn đẹp đẽ chân dài, chứ người ta có banh háng trước ban thờ nhà bạn đâu mà chửi người ta não ngắn? Bạn đó nói là hổng phải, tại "não tụi này ngắn thiệt, chứ có phải vì nó chân dài mà bị chửi não ngắn đâu".

Bạn đó bẩu muốn mua danh cho mấy ẻm, rồi dắt đi ngồi tiếp khách cho đẹp đội hình, ký tá hợp đồng cho dễ; mà vẫn có thể để làm bồ nhì, kép nhí; chơi chán còn có thể sang tay... Nói chung là tui thấy bạn tính toán khôn chết mẹ, bỏ con săn sắt bắt con cá rô, lợi đơn lợi kép. Cơ mà bạn nói đọc được tin nhắn ẻm khoe với "con hàng" khác là ẻm mới "chăn" được bạn, mới "đào" được một con vespa, một iPhone 5 và mấy cái túi hiệu LV (xuất xứ khu vực nào thì hem rõ). 

Tui bỗng thấy thương cho mấy em chân dài quá. Người ta dân làm ăn buôn bán, trong đầu có sỏi đá bê tông, lặn lộn giang hồ mấy chục năm trời để xây dựng cơ đồ sự nghiệp, không lẽ người ta ngu đến độ bị các em gài hàng mà không hay biết? Túm quần lại, các em chân dài (não cũng không ngắn lắm) kia thì đang tự cho rằng các bạn đại gia là một lũ ngu, trong khi kì thực các em thì cũng chẳng khôn cho lắm. Nên túm cái quần què lại thì, làm việc với một lũ ngu thật mệt, vì mình cứ phải... giả vờ ngu hơn chúng. Bạn đại gia chốt lại vấn đề như vậy đó.

Tui hổng nói ra đâu nhưng tui nghĩ trong đầu bạn đại gia này cũng ngu quá đi thôi. Bạn cần phải biết là có những thứ dùng để làm việc, còn có những thứ chỉ dùng để làm tình thôi chứ, lẫn lộn với nhau làm chi cho mệt vậy? Nhưng rồi tui chột dạ, người ta giàu hơn mình tức là xét về tổng thể người ta phải giỏi hơn mình, thế nên chắc có uẩn khúc gì đó ở đây mà mình còn chưa nắm rõ. Suy nghĩ tới lui, tui quyết định là trong vụ trọng án này, TUI NGU NHẤT.

Thiệt tình, cuộc đời tui quanh quẩn tới lui toàn NGU với NHỤC

st từ ank NguyenNgocLong

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Tình huống ứng dụng luật trong doanh nghiệp: Có được trừ lương nhân viên đi làm muộn?

01:42 |
Câu hỏi: Công ty tôi có nội quy rất chặt chẽ, hễ vi phạm sẽ bị trừ trực tiếp vào lương hàng tháng. Nếu không hoàn thành tiến độ công việc được giao sẽ bị trừ nhiều hơn tùy thuộc vào mức độ vi phạm.


Tháng vừa rồi do con nhỏ ốm đau, nhà lại neo người tôi cũng thường vi phạm và bị trừ tiền lương. Tôi đã giải thích và mong công ty thông cảm và được trả lời sẽ xem xét.

Vừa rồi lãnh tiền lương cuối tháng, tôi mới giật mình vì bị trừ tới 1,5 triệu đồng trong khi lương của tôi chỉ vẻn vẹn có 3 triệu (đã bao gồm cả bảo hiểm). Tôi bức xúc lắm và đã kiến nghị với lãnh đạo công ty nhưng họ trả lời đó là mức họ đã xem xét, nếu không tôi còn có thể bị cúp lương tháng này nữa.

Tôi muốn hỏi họ làm vậy có đúng pháp luật không?

Trả lời: Trừ lương nhân viên đi muộn là trái luật

Trong các biện pháp xử lý kỷ luật lao động mà pháp luật quy định, không có trừ lương. Do đó, công ty của bạn trừ lương người lao động là trái luật.

Theo quy định tại Điều 84 Bộ Luật lao động, người vi phạm kỷ luật lao động, tùy theo mức độ phạm lỗi, bị xử lý theo một trong những hình thức sau đây: Khiển trách; Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng hoặc cách chức; Sa thải.

Luật cũng quy định không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật đối với một vi phạm kỷ luật lao động.

Như vậy, trong các biện pháp xử lý kỷ luật lao động mà pháp luật quy định, không có biện pháp trừ lương của người lao động. Việc công ty của bạn áp dụng hình thức trừ lương để xử lý kỷ luật lao động là trái quy định của pháp luật.

Hơn nữa, việc công ty trả lời bạn mức trừ lương mà họ áp dụng đã được xem xét, nếu không còn có thể bị cắt toàn bộ lương tháng này (cúp lương) cũng không được pháp luật thừa nhận. Bởi khoản 2 Điều 60 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động không được áp dụng biện pháp xử phạt bằng hình thức cúp lương của người lao động”.

Luật sư Trương Anh Tú
Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, Hà Nội

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Tình huống ứng dụng luật lao động: Bị công ty quỵt phần thưởng, tôi có đòi lại được?

01:30 |
Câu hỏi: Tôi làm cho hãng thời trang lớn ở Hà Nội và đạt kết quả cao nhất cửa hàng trong chương trình dự thưởng cho nhân viên, nhưng 2 tháng sau đó tôi nghỉ việc và bị quỵt phần thưởng. Tôi nên làm gì?

Tôi làm việc cho một hãng thời trang lớn của nước ngoài tại Hà Nội được 6 năm. Ngày 1/4 - 31/5/2011 hãng đưa ra chương trình dự thưởng cho nhân viên. Tôi đã nỗ lực và đạt kết quả cao nhất cửa hàng. Ngày 31/7/2011 tôi xin nghỉ làm. Thời điểm này hãng vẫn chưa đưa ra công bố chính thức về kết quả dự thưởng.

Đến đầu tháng 12, tôi được tin hãng vừa trao giải thưởng cho những người khác mà không có tên tôi. Tôi hỏi thì nhận được câu trả lời: thời điểm hãng trao giải tôi đã nghỉ việc nên không được hưởng. Một hãng thời trang nổi tiếng thế giới mà có cách hành xử như vậy thì có đúng không? Tôi nên làm gì để đòi lại quyền lợi cho mình? Xin tư vấn của mọi người.


Trả lời: Doanh nghiệp phải trả thưởng cho người nghỉ việc

Giữa người hứa thưởng và người thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng đã hình thành hợp đồng dân sự. Nếu thương lượng không đạt, bạn có thể khởi kiện doanh nghiệp đó ra tòa án yêu cầu trả thưởng cho nhân viên khi họ đáp ứng được các điều kiện để được thưởng đưa ra.

“Hứa thưởng” là một chế định dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự. Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự “Người đã công khai hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng. Công việc được hứa thưởng phải cụ thể, có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội”.

Như vậy, khi thực hiện việc hứa thưởng (và việc hứa thưởng đáp ứng được các điều kiện vừa viện dẫn ở trên), giữa người hứa thưởng và người thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng đã hình thành hợp đồng dân sự. Theo đó, người đã hứa thưởng phải trả thưởng cho người đã thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng.

Việc hứa thưởng có thể thể hiện bằng văn bản, bằng lời nói hoặc các cách thức khác; có thể truyền đạt trực tiếp cho những đối tượng nhất định hoặc thông qua các phương tiện thông tin (loa truyền thanh của doanh nghiệp, tin nhắn đến điện thoại của nhân viên trong doanh nghiệp v.v…). Hợp đồng hứa thưởng có hiệu lực kể từ thời điểm bắt đầu thực hiện công việc được hứa thưởng và chấm dứt khi kết thúc thời hạn đó. Khi chưa đến hạn bắt đầu thực hiện công việc, người hứa thưởng có quyền rút lại tuyên bố hứa thưởng của mình. Việc rút lại tuyên bố hứa thưởng phải được thực hiện theo cách thức và trên phương tiện mà việc hứa thưởng đã được công bố.

Nguyên tắc trả thưởng được quy định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự. Theo đó:

- Trong trường hợp một công việc được hứa thưởng do một người thực hiện thì khi công việc hoàn thành, người thực hiện công việc đó được nhận thưởng.

- Khi một công việc được hứa thưởng do nhiều người cùng thực hiện nhưng mỗi người thực hiện độc lập với nhau, người hoàn thành đầu tiên được nhận thưởng.

- Trong trường hợp nhiều người cùng hoàn thành công việc được hứa thưởng vào cùng một thời điểm, phần thưởng được chia đều cho những người đó.

- Trong trường hợp nhiều người cùng cộng tác để thực hiện công việc được hứa thưởng do người hứa thưởng yêu cầu, mỗi người được nhận một phần của phần thưởng, tương ứng với phần đóng góp của mình.

Thư bạn gửi không nêu rõ tiêu chí của việc hứa thưởng (việc hứa thưởng rơi vào trường hợp nào trong 4 trường hợp nêu trên) nhưng việc hứa thưởng đối với nhân viên đã được ấn định thực hiện trong thời gian từ ngày 1/4/2011 đến ngày 31/5/2011 (là thời gian bạn đang làm việc tại doanh nghiệp) và bạn đã nỗ lực, đạt kết quả cao nhất trong thời gian này nên về nguyên tắc, bạn được sẽ nhận thưởng. Mãi hai tháng sau khi kết thúc thời hạn làm các công việc được hứa thưởng, bạn mới nghỉ việc và việc phát thưởng lại thực hiện sau khi bạn đã nghỉ việc nên không thể vin vào lý do bạn không còn làm việc ở doanh nghiệp mà từ chối phát phần thưởng cho bạn. Nếu không có những điều kiện khác đi kèm theo với việc hứa thưởng, trong trường hợp bạn “đã nỗ lực và đạt kết quả cao nhất”, doanh nghiệp phải trả thưởng cho bạn

Giữa người hứa thưởng và người thực hiện công việc theo yêu cầu của người hứa thưởng đã hình thành hợp đồng dân sự. Nếu bạn đạt yêu cầu của việc hứa thưởng đặt ra mà không được nhận thưởng, doanh nghiệp đó bị coi là đã vi phạm hợp đồng dân sự. Trong trường hợp việc trao đổi, thương lượng không đạt kết quả, bạn có thể khởi kiện doanh nghiệp đó ra Tòa án có thẩm quyền để đề nghị buộc doanh nghiệp phải trả thưởng cho bạn theo lời hứa thưởng.

Thạc sỹ, Luật sư Phạm Thanh Bình
Công ty Luật Hồng Hà

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Sự phát triển nền kinh tế Việt Nam và tầm quan trọng của quản lý nguồn nhân lực

19:41 |
Quản lý nguồn nhân lực (HRM) tại Việt Nam

1. Sự phát triển nền kinh tế Việt Nam và tầm quan trọng của HRM

Nhìn chung, trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển rất nhanh với tỷ lệ tăng trưởng GDP 8,5% và thu hút FDI 20,3 tỷ Đôla Mỹ trong năm 2007. Mặc dù chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng, mức độ chịu ảnh hưởng của Việt Nam là còn rất ít, so với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, các tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới, đánh giá Việt Nam là điểm đến lý tưởng cho hoạt động đầu tư “Bên cạnh Trung Quốc” hay “Trung Quốc cộng 1”.

Lý do để các công ty nước ngoài lựa chọn Việt Nam là địa điểm đầu tư là: 

(1) Tránh rủi ro tại Trung Quốc
(2) tránh chi phí tăng 
(3) Nền chính trị khá ổn định so với phần lớn các nước ASEAN khác
(3) đội ngũ lao động có tay nghề, khả năng học hỏi khá nhanh và chi phí nhân công thấp.

Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển và sự gia tăng giá cả, chi phí lao động tại Việt Nam đang tăng và làm suy giảm lợi thế cạnh tranh của Việt Nam ở khía cạnh này.

Với tình hình hiện tại, các công ty Việt Nam cần thực hiện việc cải tiến vấn đề công nghệ. Tuy nhiên, cùng với cải tiến công nghệ, một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với nền kinh tế Việt Nam đó là “Quản lý nguồn nhân lực”. Nói cách khác, mục đích của HRM là để phát triển các tổ chức, doanh nghiệp và kinh tế Việt Nam và nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người.

Đối với các công ty Việt Nam, cần thiết phải nâng cao “Quản lý nguồn nhân lực” ở những khía cạnh chính như: Lương, trình độ, đánh giá, sự thăng tiến, chế độ đãi ngộ, đào tạo và hệ thống phát triển nghề nghiệp.

Chúng ta luôn phải ghi nhớ nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng nhất của nền kinh tế.

2. Sự tương thích trong tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn toàn cầu về nền tảng kinh doanh

Phải chú ý đến điều kiện lịch sử và phong tục của đất nước khi thảo luận về “Quản lý nguồn nhân lực”.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng không được phép quên đi sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế, chính từ yếu tố này mà “Tiêu chuẩn toàn cầu” trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Nếu bỏ qua những hiện tượng này, chúng ta sẽ sớm bị đào thải khỏi nền kinh tế thị trường.

Việc áp dụng phù hợp bối cảnh kinh tế Việt Nam với tiêu chuẩn toàn cầu là một việc làm cần thiết. Ví dụ, nếu chúng ta áp dụng trực tiếp mô hình quản lý nguồn nhân lực của các công ty Nhật Bản vào các công ty Việt Nam thì sẽ không phù hợp. Trong trường hợp này, chúng ta cần phải điều chỉnh lại những mô hình đó để có thể sử dụng được trong các công ty Việt Nam.

Chúng ta có thể áp dụng những mô hình quản lý nguồn nhân lực của công ty Nhật Bản vào các công ty Việt Nam chỉ sau khi điều chỉnh để phù hợp với công ty và con người ở đây.

Tuy nhiên, kể từ sau khi Việt Nam gia nhập hệ thống WTO năm 2007, Việt Nam phải luôn chú ý và tuân thủ “Tiêu chuẩn toàn cầu”

3. Quản lý nguồn nhân lực là một phần của cơ sở hạ tầng kinh tế

Chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt lớn trong bối cảnh kinh tế Việt Nam giữa những ngành phát triển như công nghệ thông tin và những ngành chưa phát triển như công nghiệp dịch vụ hay ngành công nghiệp không sản xuất.

Đối với những nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh thì việc tồn tại những khác biệt này là điều không thể tránh khỏi.

Việc Việt Nam phát triển hạ tầng cơ sở xã hội như đường xá, đường ray tàu, nguồn cung cấp nước, giáo dục… để giữ tốc độ phát triển nhịp nhàng đặc biệt là ở những ngành chưa phát triển là điều quan trọng

Quản lý‎ nguồn nhân lực cũng là nhiệm vụ cần tiến hành trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế.

Vì có quá nhiều chủ đề trong chương trình phát triển nguồn nhân lực nên chúng ta chỉ xem xét một số chủ đề ưu tiên. Khi tiến hành tư vấn cho dự án quản l‎ý nguồn nhân lực, chúng ta sẽ dựa vào kết quả khảo sát về tình hình thực tế của các công ty thông qua phỏng vấn và thảo luận với các chuyên viên cấp cao để quyết định những hoạt động ưu tiên.

Đối với những công ty sản xuất, chúng tôi muốn đưa ra khuyến nghị cải cách hệ thống quản lý nguồn nhân lực bên cạnh những hoạt động nhằm tăng năng xuất và chất lượng. Tương tự, những công ty không sản xuất và chuyên về dịch vụ cũng có thể áp dụng cách thức này .

Nhiều người cho rằng có rất nhiều trường hợp nhân viên “nhảy việc” sau khi học được kỹ năng tại các công ty Việt Nam. Tuy nhiên, gần đây chúng tôi nhận thấy rằng những người trẻ tuổi có trình độ học vấn cao không thích thuyên chuyển công việc bởi vì họ cho rằng những điều kiện khách quan như tiềm năng của công ty, hệ thống đào tạo, loại hình công việc quan trọng hơn mức lương hiện tại nếu xét về lâu dài.

4. Nguyên tắc quản l‎ý nguồn nhân lực

Theo nguyên tắc quản lý‎ nguồn nhân lực của công ty, chúng tôi muốn đề cập đến “Tính rõ ràng”, “Tính trách nhiệm” và “Tính công bằng” dựa theo Tiêu chuẩn toàn cầu.

Quản lý‎ nguồn nhân lực phải được tiến hành theo Luật lao động Việt Nam.

Tính rõ ràng: Nội dung quản l‎ý nguồn nhân lực phải được phổ biến rõ ràng đối với nhân viên trong toàn công ty ngoại trừ những thông tin cá nhân. Mọi người có thể đọc những quy định về trình độ, bậc lương, việc đánh giá, thăng tiến, đào tạo, chế độ đãi ngộ và cơ hội phát triển nghề nghiệp thông qua những tài liệu in ấn hoặc qua phương tiện truyền thông. Quyết định những vấn đề về quản l‎ý nguồn nhân lực cần dựa theo nguyên tắc.

Tính trách nhiệm: Mọi người đều có quyền yêu cầu công ty giải thích những vấn đề có liên quan đến quản ly‎ nguồn nhân lực, như mức lương, việc đánh giá, thăng tiến…Ngược lại, những chuyên viên cấp cao của công ty có trách nhiệm giải thích kết quả đánh giá và l‎ý do đánh giá theo đề nghị từ phía nhân viên.

Tính công bằng: Những chương trình quản lý nguồn nhân lực phải công bằng và vô tư. Vấn đề này không phải do đánh giá cá nhân của riêng các chuyên viên cấp cao trong công ty hay bởi mối quan hệ cá nhân của những chuyên viên đó.

Nếu nhân viên có bất kỳ khiếu nại nào về quyết định của công ty thì cần lập ra một hội đồng nội bộ trong công ty để đánh giá khiếu nại đó theo quan điểm trung lập.

5. Mức lương

Lương là một yếu tố cơ bản trong quản lý‎ nguồn nhân lực vì nó ảnh hưởng đến đời sống của nhân viên. Hiện nay, việc tiêu chuẩn hóa tiền lương và tiền công trong công nghiệp, không riêng lẻ trong từng công ty là điều không thể. Mức tiền lương và tiền công tăng lên phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty.

Thêm vào đó, việc sửa đổi hệ thống tiền lương và tiền công được tiến hành nhanh chóng. Điều này có nghĩa là làm thế nào để phân chia tổng tiền lương và tiền công trong công ty.

Hơn nữa, hệ thống tiền lương và tiền công dựa vào thâm niên đã nhanh chóng bị thay đổi bằng việc đánh giá theo năng lực.

Nếu không có sự khác biệt trong mức lương giữa những nhân viên đã nỗ lực đáng kể và những nhân viên không cố gắng thì những nhân viên có nhiều đóng góp sẽ không ‎nhận ra được sự đãi ngộ của công ty đối với họ.

Chúng tôi muốn đưa ra một đề xuất để chia tiền lương và tiền công:

(1) Chia tiền lương hoặc tiền công theo tính liên tục của công việc

(2) Chia tiền lương hoặc tiền công dựa vào trình độ hoặc vị trí đảm nhiệm

(3) Chia tiền lương hoặc tiền công theo đánh giá chất lượng công việc

Cần có quan điểm dựa trên sự phát triển của công ty để thảo luận về tiền lương và tiền công. Điều này có nghĩa cần xem xét tiền lương và tiền công là phí lao động.

6. Cơ hội thăng tiến

Việc thăng tiến nên dựa vào Quy định lao động của công ty, tính chất công việc, hệ thống trình độ và đánh giá công việc. Chúng tôi muốn khẳng định lại rằng các nhà quản l‎ý không thể tự đưa ra quyết định thăng tiến.

Khái niệm “Thăng tiến” bao gồm việc đề bạt về chức vụ và việc đề bạt về trình độ.

Trình độ của từng nhân viên sẽ được quyết định thông qua sự đánh giá, sự thể hiện trong công việc, khả năng, cách làm việc của anh ấy/ cô ấy. Khi cần thiết, chúng tôi yêu cầu các ứng viên tham gia phỏng vấn, thi hoặc trình bày luận văn có nội dung liên quan đến công việc cần dự tuyển.

Nếu xét thăng tiến về trình độ, sẽ có hai khóa học là“Khóa học quản l‎ý” và “Khóa đào tạo chuyên gia” dành cho nhân viên được thăng cấp quản l‎y bậc trung. Khóa học quản lý‎ này dành cho những chuyên viên cấp cao trong tương lai và Khóa đào tạo chuyên gia dành cho những người sẽ trở thành chuyên gia hoặc chuyên viên về một lĩnh vực chuyên ngành.

Đối với những người tham dự “Khóa học quản l‎ý”, yêu cầu phải có năng lực quản l‎ý và kiến thức nói chung đồng thời phải có năng lực trong lĩnh vực chuyên ngành.

Đối với những người tham dự “Khóa đào tạo chuyên gia”, yêu cầu phải có đủ năng lực về lĩnh vực chuyên ngành.

Những học viên tham gia những khóa học này sẽ có năng lực quản l‎ý và kiến thức chuyên ngành thông qua đào tạo trực tiếp và đào tạo gián tiếp tại công ty.

7. Đánh giá

Dựa vào kinh nghiệm từ các công ty Nhật Bản, chúng tôi muốn đề xuất những hệ thống đánh giá sau đây. Những hệ thống này được chia thành ba phần:

(1) Năng lực

a. Năng lực kỹ thuật

Chúng tôi muốn đánh giá năng lực kỹ thuật cá nhân dựa vào những khía cạnh như: a. kiến thức/kỹ thuật, b. sự hiểu biết, c. khả năng diễn giải, vv.

b. Năng lực quản l‎ý

Chúng tôi muốn đánh giá năng lực quản ly cá nhân dựa vào những khía cạnh như: khả năng đánh giá, việc lập kế hoạch, khả năng lãnh đạo, khả năng thương lượng, vv.

(2) Khả năng tạo động lực

Những đặc điểm dưới đây được xét là khả năng tạo động lực

h. tính tích cực, i. tính trách nhiệm, j. khả năng cộng tác, k. tính kỷ luật, l. tính sáng tạo, m. khả năng lãnh đạo nhân viên, n. khả năng đào tạo nhân viên.

(3) Kết quả

Chúng tôi muốn sử dụng nguyên tắc “Quản lý bằng mục tiêu” để kiểm tra kết quả đối với từng học viên.

8. Đãi ngộ

Chúng tôi muốn đưa những ví dụ về phụ cấp và đãi ngộ dưới đây:

(1) Phụ cấp

Phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp đi lại, phụ cấp quản l‎ý, phụ cấp về trình độ/ khả năng ngoại ngữ, phụ cấp chuyên cần, phụ cấp công tác, phụ cấp mua nhà, phụ cấp ăn trưa, trợ cấp liên quan đến công việc, vv.

(2) Đãi ngộ

Qũy lương hưu, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế, trợ cấp mất sức, bảo hiểm bồi thường tai nạn cho công nhân, các khoản vay cá nhân với lãi xuất thấp, ô tô của công ty, chương trình tu nghiệp nước ngoài, vv.

9. Đào tạo

Đào tạo là một trong những chính sách quản l‎y nguồn nhân lực mà công ty tiến hành để phát triển năng lực cho nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu của công ty.

Chúng ta có ba phương pháp đào tạo: (1) Đào tạo trực tiếp (OJT), (2) đào tạo gián tiếp (Off-JT), (3) Tự trau dồi kiến thức. Hệ thống đào tạo quan trọng nhất chính là đào tạo trực tiếp thông qua công việc. Đào tạo gián tiếp hay tự trau dồi kiến thức có vai trò bổ sung cho đào tạo trực tiếp.

Làm những công việc khác nhau, và chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể nhằm phát triển khả năng cho từng nhân viên thông qua đào tạo trực tiếp là điều bắt buộc. Để tiến hành đào tạo trực tiếp, người quản l‎ý cần xác định mục tiêu và chương trình đạo tạo cho nhân viên của mình. Việc này cần được tiến hành hàng ngày.

Đào tạo gián tiếp được phân chia thành hai loại sau: đào tạo theo chức vụ, đào tạo theo lĩnh vực chuyên ngành, đào tạo theo chuyên đề (VD, học ngoại ngữ, tham gia buổi thảo luận hoặc theo học tại trường kinh tế, học tại trường đại học ngoại ngữ, các khóa đào tạo công nghệ cho kỹ sư, vv…)

Tự trau dồi kiến thức xuất phát từ ‎nhận thức của nhân viên nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực cá nhân. Đối với những nhân viên tự trau dồi kiến thức, đôi khi công ty nên trợ cấp học phí hoặc cung cấp những thông tin cần thiết hướng dẫn họ, vv.

Người Việt Nam thích được công ty đào tạo và coi đó là nguồn động lực, nhưng chỉ nên khuyến khich hệ thống đào tạo nghề nghiệp phục vụ thực tế.

Trong những công ty sản xuất, phương pháp đào tạo hữu ích nhất chính là “Đào tạo trực tiếp theo người hướng dẫn”.

10. Phát triển nghề nghiệp

Để tránh tình trạng “nhảy việc”, việc xây dựng “Hệ thống phát triển nghề nghiệp” là một việc làm cần thiết.

Phát triển nghề nghiệp có nghĩa là tạo cơ hội thăng tiến trong quá trình làm việc của mỗi cá nhân. Đó cũng chính là biện pháp nhằm nâng cao năng lực làm việc một cách có hệ thống.

Chúng tôi muốn khuyến nghị với các công ty Việt Nam áp dụng “Hệ thống phát triển nghề nghiệp” nhằm giúp nhân viên lập kế hoạch phát triển nghề nghiệp trong cuộc đời.

Hệ thống này bao gồm: ví dụ. (1) phân tích bản thân, đánh giá khả năng (xem xét lại kiến thức và kỹ năng), (2) kế hoạch phát triển nghề nghiệp và học tập của cá nhân trong tương lai, (3) phát triển năng lực để tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp, tự trau dồi kiến thức và việc xúc tiến hoạt động này, (4) xét lại và xây dựng mối quan hệ với gia đình và bạn bè, (5) kiểm soát sức khỏe và giữ cho cơ thể luôn khỏe mạnh, (6) lập kế hoạch chi tiêu theo điều kiện kinh tế, (7) nâng cao chất lượng cuộc sống, như tạo sở thích bản thân hay tham gia các hoạt động tình nguyện.

Những ví dụ dưới đây là những phương pháp hỗ trợ cho việc phát triển nghề nghiệp từ các công ty: (1) hỗ trợ có hệ thống cho những nhân viên tự trau dồi kiến thức, (2) hỗ trợ để nhân viên tự phân tích bản thân, (3) đào tạo ‎ý thức hình thành công việc cho nhân viên, (4) phỏng vấn và tư vấn kế hoạch tương lai cho từng nhân viên do chính người quản l‎ý thực hiện, (5) phỏng vấn và tư vấn về kế hoạch tương lai cho từng nhân viên do bộ phận quản l‎ý nguồn nhân lực thực hiện, (6) phỏng vấn và tư vấn về kế hoạch tương lai cho nhân viên bởi các chuyên gia tư vấn hoặc các cố vấn trong công ty, (7) giới thiệu về hệ thống áp dụng trong công ty, (8) giới thiệu về khả năng tự đánh giá, (9) hỗ trợ cho nhân viên mở công ty riêng hay thay đổi công việc, (10) xây dựng hệ thống chứng chỉ về trình độ trong công ty và đánh giá về chứng chỉ thông thường, (11) phổ biến và làm rõ hệ thống quản l‎ý nguồn nhân lực.

11. Kết luận

Các công ty Việt Nam nhận thức về việc tăng thu nhập và cải thiện chất lượng làm việc của nhân viên là một việc làm cần thiết. Điều này phản ánh năng suất lao động ổn định để phục vụ cho mục tiêu lâu dài.

Khi các công ty Việt Nam có khả năng tiến hành tăng năng suất lao động, mọi người sẽ hài lòng với kết quả đạt được cũng như hài lòng với thành công của chương trình quản l‎ý nguồn nhân lực theo quan điểm lâu dài.

Mọi người sẽ cảm thấy hài lòng khi họ có một công việc ổn định như mong muốn, và được tăng lương.

Chúng tôi thực sự mong muốn phát triển kinh tế cho tất cả các công ty Việt Nam cũng như tất cả mọi người thông qua những nỗ lực đã đề cập ở trên trong chương trình đào tạo về quản l‎ý nguồn nhân lực.

SHINICHI YASUDA
Tình nguyện viên cao cấp của JICA
Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Học quản lý nhân sự có thể làm được những công việc gì?

03:22 |
Kinh tế khủng hoảng, ngày càng nhiều công ty tạm ngừng sản xuất kinh doanh, phá sản,... rất nhiều người đang lâm vào tình trạng thất nghiệp. 

Mỗi năm, Việt Nam lại có hàng chục ngàn sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp ra trường với trình độ ngoại ngữ cao hơn, kiến thức và kinh nghiệm của họ tuy chưa nhiều, nhưng họ chấp nhận trải nghiệm với mức lương và đãi ngộ thấp hơn những gì bạn có thể.

Học nghề nhân sự có thể là một giải pháp cho bạn, một cơ hội mới cho bạn. 

Vậy Quản lý nhân sự - quản lý nguồn nhân lực là gì?

Quản lý nhân sự hay quản lý nguồn nhân lực là tuyển dụng, đào tạo và bố trí sử dụng... nguồn nhân lực của một tổ chức hay một công ty một cách hợp lý và hiệu quả thông qua việc xây dựng các chương trình, chính sách tuyển dụng, đánh giá, lương, thưởng, đãi ngộ... 1 cách hợp lý. 

Khi học nghề Quản lý nhân sự, bạn có thể làm các công việc gì?

Giám đốc nhân sự - giám sát một vài bộ phận. Mỗi người giám sát mỗi bộ phận như vậy phải là người có kinh nghiệm quản lý và có chuyên môn về một lĩnh vực hoạt động của quản lý nhân sự, ví dụ như mảng việc làm, mảng bồi thường, lợi ích, đào tạo và phát triển, hay các mối quan hệ trong nhân viên.

Nhân viên tuyển dụng - thực hiện các công việc như sàng lọc, phỏng vấn, kiểm tra các ứng cử viên; giải quyết những vấn đề liên quan đến sự công bằng về quyền lợi giữa các nhân viên hoặc cơ hội thăng tiến của nhân viên trong những tổ chức lớn. 

Nhân viên lương thưởng và phúc lợi - quản lý hệ thống tiền lương, các khoản tiền liên quan đến thu nhập của người lao động. Họ lập kế hoạch chăm lo phúc lợi và đời sống nhân viên, quản lý hợp đồng lao động, hồ sơ nhân viên.

Nhân viên quản lý về lương bổng của nhân viên là những người quản lý các chương trình về lương bổng của nhân viên công ty, đặc biệt là về bảo hiểm sức khỏe và trợ cấp lương hưu.

Chuyên gia phân tích công việc - thu thập và kiểm tra những thông tin chi tiết về yêu cầu công việc để chuẩn bị cho bản miêu tả công việc - giải thích về những  nhiệm vụ, đào tạo và kỹ năng mà từng công việc yêu cầu.

Chuyên gia phân tích ngành nghề thường là ở các công ty lớn.  Họ thường quan tâm đến các hệ thống phân loại ngành nghề và nghiên cứu những ảnh hưởng của ngành và các xu hướng ngành nghề đến mối quan hệ giữa nhân viên và công ty (việc ở lại hay ra đi của nhân viên trong công ty). Họ cũng có thể làm các việc liên lạc thuộc kỹ thuật giữa công ty của họ với các công ty khác, với chính phủ và liên đoàn lao động.

Nhân viên quản lý dự án, hỗ trợ nhân viên, là những người chịu trách nhiệm về rất nhiều chương trình bao gồm  từ an toàn nghề nghiệp, tiêu chuẩn và thực tiễn về sức khỏe, kiểm tra y tế và chữa bệnh, các hoạt động trợ giúp, an toàn máy móc, xuất bản, nghỉ ngơi giải trí…

Nhân viên quản lý về đào tạo huấn luyện và phát triển - chỉ đạo và giám sát các chương trình đào tạo và phát triển cho nhân viên.

Chuyên gia đào tạo huấn luyện nhân viên - đặt ra kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo rất nhiều hoạt động đào tạo.  

Những điều kiện để thành công trong nghề quản lý nhân sự

Bạn hãy là 1 người có khả năng đánh giá và sự suy xét các vấn đề một cách thận trọng và đáng tin cậy vì bộ phận quản lý nhân sự là nơi nắm rõ thông tin về nhân viên hơn bất kì bộ phận nào khác. Ở đây, nguyên tắc bảo mật được đặt lên hàng đầu. Những thông tin mật như nhân viên nào sẽ được thăng chức hay bị sa thải, lương tháng hay bản đánh giá công việc của các nhân viên đều được giữ kín.

Để làm việc được trong lĩnh vực quản lý nhân sự, bạn phải là người của mọi người - cư xử đúng mực và luôn biết lắng nghe. Hàng ngày bạn tiếp xúc với bao con người với từng ấy tính cách khác nhau, nếu không tỏ ra khôn khéo và quảng giao thì có lẽ quản lý nhân sự không phải là mảnh đất thăng hoa của bạn.

Ngoài ra, thấm nhuần văn hoá công ty, thiết lập và duy trì tốt các mối quan hệ, sử dụng và điều phối nhân lực hiệu quả cũng là những yếu tố kết tinh cho con đường phát triển của các nhà quản lý nhân sự.

Kĩ năng làm việc nhóm và làm việc độc lập cũng là những kĩ năng cần thiết cho nghề quản lý nhân sự

Không chỉ quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhân sự nói riêng, các kĩ năng trên cũng là kim chỉ nam dẫn đến thành công trong nhiều ngành nghề khác. Cánh cửa quản lý nhân sự đang rộng mở chờ đón những tài năng không ngại khó và biết đón đầu thách thức.

Học Quản lý nhân sự ở đâu? 

Bạn có thể tìm đến những tổ chức tư vấn đào tạo nhân sự chuyên nghiệp tại địa phương mà bạn sinh sống. Ví như bạn ở miền Bắc, bạn có thể tìm đến EduViet

Nhân Viên Mới
Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Một số câu hỏi phỏng vấn của Google dành cho IT

00:33 |
Một số câu hỏi phỏng vấn của Google dành cho IT:

1. Cho một danh sách liên kết đơn (simple linked list) hữu hạn. Có hai trường hợp: một là cuối danh sách trỏ về NULL, hai là trỏ về một phần tử đã gặp – tạo nên một vòng tròn trong danh sách.
Ví dụ trường hợp 1: A –> B –> C –> D –> NULL.
Ví dụ trường hợp 2: A –> B –> C –> D –> E –> F –> C.
Cho trước một con trỏ vào một danh sách liên kết đơn L nào đó, hữu hạn nhưng có thể có độ dài tùy ý. Làm thế nào để kiểm tra nhanh nhất nếu danh sách L thuộc trường hợp 1 hay trường hợp 2, với điều kiện là ta chỉ được dùng vài chục bytes bộ nhớ.

2. Cho một chuỗi ký tự s bao gồm nhiều từ. Viết một đoạn chương trình C đảo thứ tự các từ.
Ví dụ: với input là “this is a nice blog” thì output là “blog nice a is this“.

3. Cho hai dãy số đã xếp thứ tự tăng dần A và B, mỗi dãy có n phần tử. Xét tập hợp sau:
S = { A[i] + B[j] | 1

4. Chỉ với các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, các hàm lượng giác, phép lũy thừa, và phép lấy căn, cùng với ba số 2, làm thế nào để viết một biểu thức định trị ra 2005? (Gợi ý: 2005 không có gì đặc biệt, số nguyên dương nào cũng được.)

5. Bụt, diêm vương, và Tèo đứng trước mặt bạn. Bụt và diêm vương cái gì cũng biết. Tèo thì cái biết cái không. Bụt luôn nói thật, diêm vương luôn nói dối. Với 3 câu hỏi có/không, mỗi câu chỉ hỏi một trong ba đối tượng, xác định ai là ai.

6. Cho a và b là các số nguyên dương, nguyên tố cùng nhau. Tìm công thức tính số nguyên lớn nhất không thể viết dưới dạng ax+by, trong đó x và y là các số nguyên không âm.

7. Cho hai sợi dây dài, làm bằng các vật liệu khác nhau, có mật độ vật chất khác nhau ở các điểm khác nhau của từng sợi. Cho biết mỗi sợi dây cháy trong đúng một giờ thì hết. Dùng hai sợi dây (và diêm) để đo 45 phút.

8. Cho hai hình lập phương. Ta phải gán các chữ số 0-9 (mỗi mặt một số) ra sao để có thể dùng hai hình lập phương biểu diễn được tất cả các ngày trong tháng.

9. Những điểm nào trên quả địa cầu (giả sử là đúng hình cầu) có tính chất sau đây: đi về phía Nam 1km, sau đó về phía Tây 1km, sau đó về phía Bắc 1km thì quay lại điểm cũ.

10. Cho một mảnh giấy hình chữ nhật với một lỗ hổng hình chữ nhật ở giữa.
Hỏi: Dùng dao cắt mảnh giấy một nhát như thế nào để có hai nửa có diện tích bằng nhau?

11. Có 500 cái cửa nằm dọc theo một hành lang đánh số từ 1 đến 100. Lúc đầu các cửa đều đóng. Có 500 người xếp hàng đi dọc hành lang. Anh thứ nhất mở tất cả các cửa; anh thứ hai chuyển trạng thái (mở thành đóng, đóng thành mở) các cửa 2, 4, 6, …; anh thứ ba chuyển trạng thái các cửa 3, 6, 9, …; cứ như vậy đến anh thứ 500 chuyển trạng thái cửa 500. Hỏi: cuối cùng có bao nhiêu cửa đóng?

12. Có hai căn phòng nằm cạnh nhau nhưng không thông nhau, và đứng bên này không thấy bên kia. Phòng 1 có ba cái đèn bóng tròn. Phòng 2 có ba công tắc của ba đèn ở phòng 1. Bạn là người lạ, được dẫn vào phòng 2 trước, được quyền nghịch ngợm tắt mở công tắc tùy ý. Sau đó bạn được sang phòng 1 kiểm tra đèn. Hỏi: nghịch thế nào ở phòng 2 để biết công tắc nào tương ứng với đèn nào?

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Bài học về cách giải quyết vấn đề tại công ty Nhật

19:54 |

Phần lớn, các công ty Việt ngày nay cứ hỏi vì sao họ không bán được hàng, khách hàng rời bỏ họ, vì sao các công ty Nhật luôn được đánh giá cao, sản phẩm của Nhật bao giờ cũng đắt nhưng vẫn được tiêu thụ rộng rãi trong khi sản phẩm của Việt Nam trong mắt người tiêu dùng Việt thì lại bị đánh giá thấp...

Trong một buổi trao đổi về năng suất chất lượng với một công ty Nhật Bản, một chuyên gia về chất lượng đã chia sẻ một câu chuyện rất có ý nghĩa như sau:

Trong một công ty A là công ty lớn nhất của Nhật Bản về ngành mỹ phẩm bị khách hàng khiếu nại là mua phải một hộp xà bông mà bên trong không có xà bông, chỉ là 1 hộp rỗng. Công ty nọ đang vận hành hệ thống TQM. Ngay khi nhận được thông tin từ khách hàng, đội ngũ quản lý chất lượng lập tức tiến hành lập phiếu CAR, điều tra nguyên nhân và đề ra hướng khắc phục sự cố.

Chuyên gia chất lượng tại công ty A đã đề xuất mua một hệ thống X Quang để chụp toàn bộ hoạt động của dây chuyền sản xuất, tuyển 2 người giám sát hệ thống soi chiếu nhằm đảm bảo tất cả những hộp xà phòng không còn bị lỗi "không có xà phòng trong hộp" như khách hàng đã nêu.

Việc này đã thành công, khách hàng không còn phàn nàn nữa và chuyên gia quản lý chất lượng trên rất hả hê vì đã giải quyết rốt ráo vấn đề.

Tuy nhiên, tại một công ty nhỏ tại Nhật, công ty B cũng xảy ra tình trạng tương tự. Do là công ty nhỏ, không thể có năng lực tài chính để có thể mua cả 1 hệ thống X Quang cũng như không thể thuê 2 nhân viên chỉ để giám sát hệ thống X Quang nhằm tránh xảy ra lỗi trên. Do đó, giám đốc công ty đã tìm cách giải quyết. Cuối cùng, ông mua về 1 quạt gió công nghiệp loại lớn và cho thổi vào dây chuyền đóng gói. Những hộp xà phòng nào không có xà phòng bên trong lập tức bị quạt gió thổi bay xuống chuyền. Không cần ai vận hành cũng không hề tốn kém. Kết quả là công ty B cũng đã giải quyết được vấn đề mà khách hàng phàn nàn trên.

Sau khi nghe câu chuyện, có 3 vấn đề mà chúng ta cần suy ngẫm về phong cách Nhật Bản:

Thứ 1: Đối với những lỗi nhỏ mà khách hàng phàn nàn, họ sẵn sàng đầu tư rất lớn để giải quyết những vướng mắc trên. Dù thiếu xà phòng trong hộp là rất nhỏ, nhưng họ sẵn sàng bỏ hàng chục ngàn USD để đầu tư hệ thống X Quang giám sát.

Thứ 2: Trong cái khó ló cái khôn Công ty B do không đủ nguồn lực, nên đã tìm 1 cách khác sáng tạo hơn và hầu như không tốn kém. Đây là một trong những điểm thể hiện sự thông minh và uyển chuyển của các công ty Nhật Bản.

Thứ 3: Những điển cứu như trên được các công ty Nhật Bản thông tin cho nhau một cách nghiêm túc để rút kinh nghiệm. Và chính công ty A về sau đã chuyển dây chuyền X Quang sang một công đoạn khác để kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu vào và dùng cách của công ty B để giải quyết trường hợp của mình. Đây là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam cần học tập. Hệ thống truyền thông  về cải tiến chất lượng tại Việt Nam hầu như chỉ khu trú trong nội bộ doanh nghiệp mà không trong hệ thống ngành, do đó những trường hợp xảy ra tại công ty này hầu như không được những công ty trong  ngành biết và áp dụng.

Tại Nhật Bản, những trung tâm năng suất chất lượng hầu như có mặt tại từng địa phương và hoạt động rất hiệu quả. Đây là những nhân tố giúp Nhật Bản phát triển thần kỳ như ngày hôm nay. 

Thường thì dân Việt khi gặp phải trường hợp như thế này sẽ làm gì ??
1. Lờ đi, bỏ qua, nó chỉ là 1 trường hợp rất nhỏ, 1 tình huống hãn hữu mới xảy ra, và... kệ.
2. Chưa cần biết chuyện có thể đi đến đâu, hậu quả thế nào, chỉ cần có người thông báo lỗi là ai cũng nhảy lên phân bua, xong đổ lỗi cho người khác.
.v.v. và rất nhiều chuyện khác ...

Không biết khi nào Việt Nam có được những bước chuyển biến như vậy?...

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Nhảy việc theo tiền lương, có đáng hay không?

21:43 |
Nếu đổi việc, lương sẽ tăng 88%, bạn có nhảy việc? Hiện nhảy việc đã thành trào lưu, không chỉ tính trung thành với công ty bị mất đi, còn tạo nên sự thiếu hụt nhân tài, và các công ty cũng “lao” vào công cuộc ngã giá tiền lương nhằm thu hút nhân lực.

Tăng lương do thiếu hụt nhân tài 

Nhảy việc vốn không phải là việc xấu, nhưng nếu nguồn nhân lực của một ngành nghề là lưu động chứng tỏ ngành nghề này đang trong giai đoạn phát triển không ngừng và cần có nguồn nhân lực dồi dào. 

Vấn đề thực tế là nhân viên nhảy việc theo tiền lương đang trở nên rất phổ biến. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển hướng và phát triển nhanh, nhu cầu về nguồn nhân lực là rất lớn trong khi hệ thống tiền lương còn chưa được hoàn thiện. Những năm gần đây, quá trình chuyển hướng nền kinh tế đang đòi hỏi một lượng lớn nguồn nhân tài và trở thành một vấn đề nóng bỏng. 

Khi tăng lương là liệu pháp chữa cháy cho công ty 

Tăng lương với mục tiêu ngăn cản sự cắt giảm nhân lực cho công ty, là thủ đoạn thu hút nguồn nhân lực bên ngoài, là phương pháp chữa cháy nhất thời cho công ty. 

Khi tham gia vào cuộc chiến tiền lương, dù có những lợi ích nhất định nhưng công ty sẽ phải đối mặt với một loạt các vấn đề như nâng cao chi phí sử dụng nhân viên cũ và tuyển dụng nhân viên mới. Trong phản ứng dây chuyền của chính sách này thì doanh nghiệp vừa là người được lợi và cũng vừa là nạn nhân. 

Sự nhảy việc thường xuyên của nhân viên gây ra cuộc khủng khoảng nội bộ trong công ty. Để bổ sung vào những vị trí trống do nhân viên nghỉ việc công ty phải sử dụng các nhân viên chưa đủ kinh nghiệm hoặc trình độ nghiệp vụ; việc sử dụng nhân viên cùng cấp bậc ngoài chức trách không thể đáp ứng được yêu cầu như những nhân viên trong cùng chuyên ngành. Kết quả, chi phí lao động gia tăng nhưng lợi nhuận không hề tăng lên và năng lực đội ngũ nhân viên cũng không được cải thiện. Trong cuộc chiến tăng lương này, một lần nữa mang đến sự bất ổn trong hệ thống thanh toán lương, trợ cấp và văn hóa doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng lúng túng hơn khi nhân viên sẵn sàng bỏ việc khi có một công việc với mức lương cao hơn. 

Nhân viên mới nên tránh hành vi nhảy việc 

Trong cuộc chiến tiền lương hỗn loạn như hiện nay, các chuyên gia nguồn nhân lực kiến nghị những sinh viên mới ra trường hãy cẩn trọng khi quyết định nhảy việc. 
Những người mới đi làm thường thay đổi công việc trong 1-2 năm nhưng mức lương có thể tăng 10%-20%; nếu tiếp tục trong khoảng 5-6 năm thì không ít trong số họ sẽ tham gia làm việc cho hàng loạt các công ty trong cùng một lĩnh vực, cho dù tiền lương tăng lên không ít nhưng đổi lại cơ hôi thăng tiến dường như bằng không và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp. Bù lại nếu bạn làm cho một công ty với cùng khoảng thời gian như vậy, cơ hội thăng tiến là rất lớn khi nhìn lại vị trí của bạn có thể đã tiến lên rất xa.

Một chuyên gia tư vấn nguồn nhân lực từng nói: Doanh nghiệp trong quá trình thu hút tài năng không ngừng tạo ra cuộc chiến bong bong tài năng, người mới vào nghề với kinh nghiệm ít ỏi, kiến thức chưa vững dễ bị thiệt thòi và mất đi cơ hội làm việc. 

Một dấu hiệu mới, các công ty ngày càng trọng dụng và đánh giá cao sự trung thành của nhân viên, và không mong muốn bỏ phí thời gian để sử dụng nhân lực chạy theo tiền lương. Hiện nay nhiều công ty yêu cầu nhân viên mới cho biết phương thức liên lạc với công ty cũ hoặc người phụ trách trước kia của họ trong giấy giới thiệu hay hồ sơ xin việc để kiểm tra lại sự trung thành của họ với công ty trước. 

Hơn nữa một công ty tiềm năng sẽ ưu tiên cho công tác bồi dưỡng nhân viên nội bộ hơn là nhân viên ngoài luồng, như thế tức là công ty đã tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp một cách rõ ràng cho nhân viên của mình, tạo điều kiện cho họ tham gia các dự án, hạng mục thúc đẩy tinh thần làm việc. 

Lời khuyên cho người nhân viên mới: Không phải là không thể nhảy việc mà bạn cần hiểu rằng không nên vì một chút ít tiền lương làm lãng phí thời gian và cơ hôi quý báu phát triển sự nghiệp.

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Đào tạo nhân sự - Phần 01: Tại sao bạn thất bại trong đào tạo nhân sự

20:29 |
Sáng nay, Nhân Viên Mới vừa ăn sáng vừa hóng được chuyện ở hàng bún đậu mắm tôm là... mí chung cư quanh khu Nhân Viên Mới làm, tiền thuê nhà 1 tháng 10tr VNĐ, chưa kể tiền điện, nước. Nhà cũng bình thường thôi, rộng thì cũng không rộng lắm, dịch vụ không có gì đặc sắc, thế mà cắt .. >"<. Trộm nghĩ cái thân mình đi làm không đủ tiền thuê nhà sống chứ đừng nói đến chuyện nuôi thêm ai đó... haizz

Kinh tế khó khăn, nhà nhà đóng cửa, "người thất nghiệp đầy đường" là câu thường nghe trong các chốn văn phòng. Thế mà, vẫn nghe chuyện người ta "nhảy" việc, người ta bỏ việc, người ta không thèm làm việc chỗ nọ chỗ kia ... kể cũng tài... 

loanh quanh Google search, thấy nguyên nhân thì mênh mông lắm, nhưng tựu chung lại giải pháp vẫn nằm ở con người.

Vẫn là chuyện đào tạo nhân sự... 

Trong giai đoạn kinh tế "ảo" như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tống khứ hàng tồn, tạo ra sản phẩm mới và nâng cao cái "năng lực cạnh tranh" - như trong sách nói ^^ - thì việc đào tạo nhân viên đã trở thành một công việc đương nhiên phải làm như bán hàng, sản xuất và tiếp thị ..., là một lẽ tự nhiên như hít thở để mà sống vậy. Tuy nhiên, xung quanh việc đào tạo thời gian qua phần lớn lại là những câu chuyện về sự thất bại. 

Đã có tình trạng nhiều doanh nghiệp cuối năm hối hả “đón thầy” về đào tạo, hoặc cấp ngân sách ào ạt cho nhân viên đi học… để sử dụng cho hết số tiền đào tạo dự chi trong năm. Rốt cuộc, việc học chỉ để lấy có chứ không quan tâm đến mục tiêu, chất lượng! Đa số những người có liên quan đều bày tỏ sự thất vọng với kết quả của đào tạo. Ngân sách đào tạo bị đắn đo, thu hẹp lại. Nhiều công ty không có ngân sách đào tạo, chỉ khi nào có khóa học tốt thì mới xem xét phê duyệt kinh phí riêng. Có những công ty bỏ luôn việc đào tạo hàng năm trời không ngó ngàng tới.... 

"Vậy, tại sao đào tạo không hiệu quả?"

Tôi tóm tắt lại cái lý do ở đây: 

Thứ nhất, bên bạn không có kế hoạch đào tạo với mục tiêu - lợi ích cụ thể mà việc đào tạo mang lại.
Ví dụ: 
Thấy doanh số thấp thì bắt nhân viên đi học kỹ năng bán hàng, mà không biết rằng doanh số thấp có thể còn do khách hàng không hài lòng ở sự mất vệ sinh của cửa hàng; hoặc việc nhân viên đối xử không tốt với khách hàng có thể còn do người quản lý cửa hàng chưa rành cách quản lý nên tạo ra những áp lực không đáng có cho nhân viên của mình...

Người học chỉ nhắm đến việc thu lượm được những kiến thức mới mà không có định hướng cụ thể, rõ ràng là sẽ phải áp dụng kiến thức đó vào giải quyết công việc và vấn đề nào đó của mình. 

Người bỏ tiền cho nhân viên đi học thì cũng chỉ hy vọng chung chung rằng với những kiến thức thu lượm được, nhân viên của mình sẽ cải thiện được kết quả và hiệu quả công việc, mà không đặt ra được mục tiêu cụ thể sau khóa học, việc thực hiện công việc của nhân viên phải được thể hiện như thế nào. 

Mặt khác, do phân tích nhu cầu đào tạo không đầy đủ và hệ thống, người ta không thấy hết những nguyên nhân có liên quan đến vấn đề để giải quyết cho đồng bộ (ví dụ, bên cạnh đào tạo kỹ năng giao tiếp cho nhân viên cửa hàng thì phải chấn chỉnh việc quản lý bằng cách đưa ra hệ thống xếp ca làm việc cho công bằng, chỉ tiêu công việc rõ ràng cho từng nhân viên, qua đó làm giảm áp lực cho người quản lý, đánh giá được kết quả của nhân viên để đãi ngộ, thưởng phạt...), do vậy, kết quả đạt được từ đào tạo không những không phát huy được mà còn bị mai một.

Thứ hai, việc lựa chọn cá nhân cử đi học cũng khá quan trọng, nhưng bạn đã chú ý đến điều này chưa? thử đọc nhá

Cá nhân theo học các chương trình đào tạo cần có thái độ tích cực, muốn học thật sự,  để việc học đạt kết quả trọn vẹn. Có nhân viên cho rằng đã làm việc lâu năm ở công ty, biết rành rẽ mọi chuyện thì không cần phải học nữa. Những người này nếu được chọn đào tạo sẽ chỉ thụ động tham gia và sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì sau đào tạo. Có lẽ các doanh nghiệp chỉ nên ưu tiên cho những nhân viên dám chủ động đưa ra đề nghị với lãnh đạo: “Hãy đào tạo tôi để tôi làm việc tốt hơn”! Kế đến, đó phải là những người biết đặt ra mục tiêu cá nhân. 

Theo tôi, những bước phát triển kỹ năng của con người thông qua đào tạo sẽ tuân thủ theo nguyên tắc A.I.D.A (Attention, Interest, Desire, Action) như sau: 


Theo đó, chúng ta sẽ khởi đầu ở mức: “không biết mình không có kỹ năng” -->“biết mình không có kỹ năng” lúc này nhân viên sẽ tự phải biết mình cần học, sẽ tự học hoặc chấp nhận đào thải. Từ giai đoạn biết mình cần học, nhân viên sẽ tự có ý thức quan tâm, tìm hiểu về các kiến thức + kỹ năng cần phải học, tự biết (hoặc tự tìm hiểu xem mình cần học cái gì trước, cái gì sau, cái gì là cần kíp trước mắt, cái gì là cần cho lâu dài...) -->  tự sắp xếp, lên kế hoạch và cuối cùng là hành động đạt ngưỡng “không biết mình có kỹ năng”.

Chỉ từ 1 nhân viên được đào tạo thành công, bạn đã có tấm gương cho những nhân viên còn lại trong doanh nghiệp. Kết hợp với những chính sách phát triển hợp lý, doanh nghiệp bạn đã bước đầu "gây mầm" cho những thành công tiếp theo trong việc phát triển văn hóa doanh nghiệp, đào tạo nội bộ, phát triển thương hiệu nhân sự cho chính bản thân doanh nghiệp ... 

Túm lại, cần tìm đúng người có nhu cầu học, có khả năng học và thực sự muốn học.

(còn tiếp) Nhân Viên Mới









Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Những câu hỏi khó trả lời trong phỏng vấn tuyển dụng

00:11 |
Bạn là nhà tuyển dụng, bạn muốn đánh trượt một nhân viên nào đó, hoặc muốn thử thách phản ứng của ứng viên, bạn có rất nhiều cách. Hôm nay, tôi xin chia sẻ một vài câu hỏi dùng trong phỏng vấn tuyển dụng mà các nhà tuyển dụng nước ngoài đã từng ứng dụng và kết quả khá thú vị, bạn cũng có thể đặt mình vào vị trí của ứng viên, tự suy nghĩ và đưa ra câu trả lời: 

Warren Brown, nhà sáng lập doanh nghiệp bán lẻ bánh ngọt CakeLove và Love Café: “Bạn có khả năng xử lý sự cố không?”.

Nếu ứng cử viên hỏi ngược trở lại là ý tôi muốn nói gì thì cuộc phỏng vấn chấm dứt ngay tại đó.

Julie Jumonville, nhà sáng lập kiêm Giám đốc Sáng tạo của công ty sản phẩm chăm sóc sức khỏe và an toàn cho trẻ UpSpring Baby: “Nếu tôi đưa bạn một chú chó to lông dài trong 15 phút và yêu cầu bạn đếm xem có bao nhiêu cọng lông, thì bạn sẽ làm cách nào để cho tôi con số chính xác nhất?”.

Tôi chọn thuê người trả lời rằng sẽ không ngồi đếm lông mà chỉ vuốt ve và kết bạn với chú chó.

Tate Chalk, nhà sáng lập kiêm CEO công ty giày thể thao nữ giới Nfinity: “Tại sao bạn muốn làm việc này?”.

Từ câu hỏi đó, bạn có thể biết ứng cử viên có thể phản ứng nhanh nhạy đến mức nào. Họ hiểu bao nhiêu về Nfinity? Họ muốn làm việc cho Nfinity đến mức nào?...

Clint Greenleaf, nhà sáng lập kiêm CEO công ty về xuất bản, tiếp thị và phân phối sách Greenleaf Book Group: “Khi tôi gọi cho “sếp” cũ của bạn, ông ấy sẽ nói gì?”.

Không phải “nếu” mà là “khi”. Đó là lời khẳng định tôi thật sự sẽ gọi “sếp” cũ của người đó để hỏi chuyện, thế nên họ sẽ thành thật trả lời hơn.

Rob Adams, Giám đốc phòng thí nghiệm Texas Venture tại đại học Texas: “Hiện tại bạn đang đứng ở vị trí nào, và bạn sẽ làm gì trong 10 năm tới?”.

Jennifer Hill, Chủ tịch Cộng đồng Nữ lãnh đạo Astia NYC Advisory Board: “Bạn muốn tôi hỏi bạn câu gì?”.

Và rồi tôi hỏi đúng câu họ muốn tôi hỏi. Câu hỏi này gợi phản ứng thành thật và mời chào nhiều vấn đề đa dạng.

Lawrence Gelburd, diễn giả trường Wharton: “Tại sao bạn lại muốn làm việc cho công ty này và từ bỏ chỗ làm hiện tại của bạn?”.

Tom Szaky, nhà sáng lập công ty chuyên cung cấp chương trình thâu thập nguyên liệu để tái chế và tái chế TerraCycle: “Cần đến 10.000 USD để gây dựng độ nhận biết của mọi người về một chương trình. Nhưng chúng tôi không có ngân sách, vậy bạn làm thế nào để hoàn thành công việc?”.

Tôi muốn thấy mọi người giải quyết vấn đề như thế nào. Càng nghĩ sáng tạo thì càng thành công. Và bài toán tôi đưa ra thật sự là có lời đáp.

Eric Ryan, nhà đồng sáng lập kiêm kiến trúc sư thương hiệu của công ty Method: “Bạn sẽ làm thế nào để giữ cho Method quái đản?”.

Không phải chỉ là phỏng vấn, mà chúng tôi cho ứng cử viên vài ngày để chuẩn bị và 45 phút để thuyết trình. Xem lý lịch và phỏng vấn ngắn không đem lại hiệu quả. Chúng tôi cần hiểu rõ về sức sáng tạo, sự tự tin và lòng dũng cảm của ứng cử viên. Người dám nghĩ dám làm và đột phát một chút mới phù hợp với chúng tôi.

Phil Town, nhà đầu tư kiêm tác giả sách: “Nói cho tôi biết tại sao bạn thích hợp vị trí công việc này nhất?”.

Gary Whitehill, nhà sáng lập những tổ chức và chương trình phi lợi nhuận The Relentless Foundation và New York Entrepreneur Week: “Nếu bạn có một điều ước và nó sẽ thành hiện thực thì đó là gì và tại sao?”.

Steve Strauss, tác giả sách và người viết báo: “Quyển sách hay bộ phim bạn ưa thích nhất là gì?”.

Câu hỏi đó khiến tôi hiểu đời tư và quan điểm cá nhân của ứng cử viên. Nhờ nó, tôi biết thêm về họ mà chắc chắn không có sự gian dối, không có sự chuẩn bị trước.

Nhân Viên Mới cho rằng, bạn cũng có thể thử nghiệm, đưa ra các câu hỏi trên với những nhân viên trong doanh nghiệp, nó khá là thú vị ^^ 




Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét

Khảo sát mức độ hài lòng của nhân viên đối với Công ty

20:05 |
Suy thoái kinh tế hiện nay đã dẫn đến việc suy giảm doanh thu, nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thị trường của các Doanh nghiệp còn hoạt động thì bị thu hẹp rất nhiều. Các doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về nguồn nhân lực như:

1. Tỉ lệ chảy máu chất xám, nhảy việc tăng cao:
Trước kia, tình trạng nhảy việc chỉ diễn ra ở lao động trẻ với mong muốn gia tăng thu nhập. Hiện nay trong tình cảnh kinh tế biến động, nhảy việc diễn ra ngày càng nhiều (10-13% mỗi năm) với nhiều nguyên do hơn: Môi trường làm việc thiếu chuyên nghiệp, mâu thuẫn với cấp trên, lộ trình phát triển nghề không rõ ràng, cơ cấu tổ chức không hợp lý, tái thiết công ty không hài hòa…

2. Đình công lao động gia tăng:
Trong 2 năm gần đây, nạn đình công tại Việt Nam đã không ngừng tăng cao. Theo thống kê có 387 vụ năm 2006 và 541 năm 2007. Số liệu không chính thức năm 2008, tổng cộng 775 vụ đình công tập thể, dẫn đến nhiều hệ lụy như: Sản xuất trì trệ không đạt kế hoạch, uy tín doanh nghiệp bị tổn hại trên thị trường v.v…

3. Năng suất và hiệu quả làm việc suy giảm:
Đây cũng là yếu tố tác động khá lớn tới sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ sự thiếu tin tưởng vào những quyết sách mới của công ty, sự thay đổi về cơ cấu tổ chức, nhân viên luôn cảm giác bất an về tương lai của chính mình…

Và, lời giải mới cho bài toán nhân lực đó là: Nghiên cứu mức độ hài lòng của người lao động:


Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ quản trị nguồn nhân lực đó chính là "Mức độ hài lòng của nhân viên đối với Công ty".Tất nhiên nó có mối quan hệ logic với một số tiêu chí khác như: năng suất lao động, chi phí nhân công, ...vv nhưng trong khuôn khổ của chủ đề này tôi chỉ mong muốn được trao đổi cùng các bạn một công cụ để đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên, đó là "Bảng câu hỏi khảo sát". bạn có thể dùng nó để làm một cuộc khảo sát tại Công ty mình xem như thế nào.

NỘI DUNG CÁC CÂU HỎI KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI CÔNG TY

MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỚI CÔNG VIỆC
Đầu tiên, chúng tôi muốn tìm hiểu về mức độ hài lòng của bạn với công việc, ví dụ như: liệu bạn có được những thử thách thú vị ở công việc hiện tại, hoặc khối lượng công việc ra sao,....
- Tôi hiểu rõ yêu cầu công việc của mình
- Bản thân tôi rất hài lòng với công việc của mình
- Tôi rất tự hào khi nói với người khác về công ty tôi đang làm việc
- Khối lượng công việc của tôi là chấp nhận được
- Công việc của tôi có nhiều thử thách thú vị

LƯƠNG BỔNG & PHÚC LỢI
Đây là phần nói về lương bổng và phúc lợi mà bạn nhận được từ công ty hiện tại.
- Tôi tin rằng mức lương của tôi rất cạnh tranh so với thị trường lao động trong nước
- Tôi được trả lương xứng đáng cho trách nhiệm và chất lượng công việc
- Tôi nhận được phúc lợi tốt ngoài tiền lương (ví dụ chi phí đi lại, ăn uống, nghỉ mát...)
- Tôi cảm thấy phúc lợi tôi nhận được từ công ty hấp dẫn hơn so với bạn đồng nghiệp ở những công ty khác
- Tôi rất hài lòng với cách quy định chế độ tăng lương và các phúc lợi khác của công ty

Bạn nhận được những phúc lợi nào dưới đây từ công ty?
- Trợ cấp nghỉ hưu
- Trợ cấp nhà ở
- Trợ cấp đi lại
- Kiểm tra sức khỏe
- Căn-tin/ Bữa ăn được cung cấp
- Ngày nghỉ hàng năm
- Nghỉ phép có lương
- Nghỉ bệnh
- Nghỉ sinh con có lương
- Nghỉ vào ngày vợ sinh con có lương
- Ngày nghỉ cho các chương trình huấn luyện và đào tạo
- Phí bảo hiểm xã hội/ bảo hiểm tai nạn
- Các chương trình hỗ trợ nhân viên, ví dụ: Tập huấn về cách thức quản lý công việc , giảm căng thẳng, Chương trình cho nhân viên vay vốn....
- Chế độ thưởng cho thành tích
- Trả lương ngoài giờ
- Kế hoạch thưởng cổ phiếu cho nhân viên
- Trợ cấp ngày nghỉ lễ
- Chương trình hỗ trợ cho việc phát triển trình độ học vấn của nhân viên, ví dụ: Cao học....
- Chế độ hỗ trợ cho việc chuyển đổi nơi công tác
- Hỗ trợ chi phí xăng dầu
- Phiếu quà tặng của công ty

Với các phúc lơi mà bạn nhận được, hãy lựa chọn các trường hợp bạn cảm thấy mình đáng được hưởng hoặc công ty cần cải thiện thêm.
- Trợ cấp nghỉ hưu
- Căn-tin/ Bữa ăn được cung cấp
- Ngày nghỉ hàng năm
- Nghỉ phép có lương
- Nghỉ bệnh
- Ngày nghỉ cho các chương trình huấn luyện và đào tạo
- Phí bảo hiểm xã hội/ bảo hiểm tai nạn
- Các chương trình hỗ trợ nhân viên, ví dụ: Tập huấn về cách thức quản lý công việc , giảm căng thẳng, Chương trình cho nhân viên vay vốn....
- Chế độ thưởng cho thành tích
- Kế hoạch thưởng cổ phiếu cho nhân viên
- Trợ cấp ngày nghỉ lễ
- Chương trình hỗ trợ cho việc phát triển trình độ học vấn của nhân viên, ví dụ: Cao học....

CHÍNH SÁCH VÀ QUY TRÌNH LÀM VIỆC
Đây là phần nói về chính sách và quy trình làm việc của công ty bạn đang làm việc.
- Tôi được giới thiệu và định hướng công việc rõ ràng trong ngày làm việc đầu tiên
- Sự thăng tiến và chuyển đổi công việc trong công ty được thực hiện công bằng
- Tôi biết cách xử lý các tình huống khẩn cấp tại nơi làm việc (ví dụ cháy nổ hoặc có người bị thương)
- Nếu tôi không hài lòng với mức lương hoặc chế độ phúc lợi, tôi có thể thảo luận với cấp trên hoặc phòng nhân sự
- Tôi cảm thấy rằng các chính sách của công ty đối với nhân viên là tốt

QUAN HỆ NƠI CÔNG SỞ
Đây là phần nói về mối quan hệ của bạn với đồng nghiệp và cấp trên.
- Tôi làm việc rất tốt với đồng nghiệp và tôi thích những người tôi làm việc chung
- Cấp trên của tôi lắng nghe ý kiến của tôi và tôn trọng tôi
- Tôi cảm thấy môi trường làm việc không có chủ nghĩa cá nhân/ không đối xử theo cảm tính
- Tôi học được rất nhiều từ những người tôi làm việc chung
- Tôi rất thích những chương trình khích lệ tinh thần làm việc của nhân viên, ví dụ như Nghỉ mát, Ngày gia đình, hoạt động xây dựng tinh thần đồng đội và các chương trình khích lệ khác

PHƯƠNG THỨC ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG VIỆC
Đây là phần nói về phương thức đánh giá hiệu quả công việc của công ty.
- Nếu tôi làm tốt công việc tôi sẽ được tăng lương/ thưởng và/ hoặc sẽ được thăng tiến
- Công ty tạo cho tôi tinh thần làm việc có trách nhiệm
- Tôi tin rằng bảng đánh giá thành tích đánh giá chính xác hiệu quả làm việc của tôi
- Tiền thưởng của tôi phản ánh hiệu quả làm việc của tôi.
- Tôi hiểu rõ tôi cần cải thiện những mặt nào để có thể nâng cao hiệu quả công việc

THÔNG TIN
Đây là phần nói về vấn đề thông tin nội bộ trong công ty bạn đang làm.
- Tôi có đầy đủ thông tin đúng & cần thiết để hoàn thành tốt công việc
- Tôi thường xuyên có các buổi họp nhóm & cấp trên của tôi
- Cấp trên của tôi luôn thông báo cho tôi về những thay đổi trong công ty
- Cấp trên của tôi tham khảo ý kiến của cấp dưới trước khi ra quyết định có ảnh hưởng đến công việc của họ
- Tôi hiểu rõ nên làm gì và gặp ai nếu có thắc mắc về công việc
Nhân viên trong công ty tôi có những phương tiện thông tin sau đây: (Chọn tất cả các ô mà bạn đồng ý)
- Internet
- Thư điện tử
- Hộp thư đóng góp ý kiến
- Thông báo & Văn bản
- Điện thoại bàn
- Bảng thông báo
- Các cuộc họp với cấp lãnh đạo
- Các cuộc họp phòng/ban
- Thư thông báo

ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
Đây là phần nói về việc đào tạo và phát triển của công ty dành cho nhân viên.
- Tôi được tham gia các khóa huấn luyện cần thiết để làm việc hiệu quả
- Tôi rất lạc quan về tiềm năng phát triển và thành công của mình trong công ty
- Tôi được cung cấp đầy đủ tài liệu và chương trình huấn luyện để phát triển kỹ năng làm việc
- Công việc của tôi tạo nhiều cơ hội để tôi chuẩn bị cho sự thăng tiến của mình trong công ty
- Công ty tôi đầu tư vào nhân viên qua các chương trình huấn luyện và phát triển
Xin vui lòng cho biết bạn đã tham gia vào bao nhiêu chương trình huấn luyện của công ty trong 2 năm vừa qua?
- 0
- 1-2
- Trên 3

SỨC KHỎE VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG
Đây là phần nói về vấn đề sức khỏe và an toàn lao động trong công ty.
- Tôi được hướng dẫn đầy đủ về sức khoẻ và an toàn khi bắt đầu làm việc trong công ty
- Ban lãnh đạo tổ chức những buổi hội thảo và thảo thuận về sức khỏe nghề nghiệp và an toàn nơi làm việc cho toàn bộ nhân viên
- Nhân viên trong công ty tôi được cung cấp đầy đủ các phương tiện bảo hộ lao động và thiết bị an toàn cần thiết khi thực hiện các công việc có tính nguy hiểm hoặc rủi ro cao
- Tôi được cung cấp đầy đủ dụng cụ & thiết bị bảo hộ lao động ở nơi làm việc
- Tôi cảm thấy môi trường làm việc của tôi rất an toàn

Chúng tôi cho rằng có một số yếu tố sẽ quan trọng hơn với bạn so với một số yếu tố khác. Để hiểu rõ hơn về mức độ quan trọng của từng yếu tố đối với bạn, xin bạn vui lòng đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố bằng sắp xếp lại thứ tự ưu tiên của các yếu tố. Xin lưu ý: Hai yếu tố không thể có cùng 01 vị trí.

Bạn có nghĩ rằng công ty của bạn là một công ty rất tốt để làm việc không?
Bây giờ, đề cập về sự cam kết gắn bó của bạn đối với công ty hiện tại, xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn ra sao, (Lưu ý: Câu hỏi này chỉ nhằm để tìm hiểu tâm lý chung của nhân viên, KHÔNG dùng như một công cụ đo lường ý định thật sự của nhân viên)
Tôi sẽ gắn bó lâu dài với công ty này

Xin cho biết mức độ bạn sẽ giới thiệu với người khác vào làm việc trong công ty bạn ra sao?

Các anh chị em và các bạn nên lưu ý: Việc nghiên cứu độ hài lòng của người lao động không đơn giản. Doanh nghiệp cần có sự tham gia phối hợp của các đơn vị tư vấn có chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực này. Việc sử dụng dịch vụ tư vấn sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế những rủi ro trong quá trình thực hiện và tiết kiệm chi phí đầu tư cho nguồn lực để thực hiện. Ngoài ra ở vai trò tư vấn bên thứ ba, tính khách quan sẽ tạo được niềm tin cho nhân viên để họ nói lên những cảm nhận về các vấn đề họ quan tâm nhất.

Read more…

Comments[ 0 ]


Đăng nhận xét